Danh mục
TIẾP CẬN THÔNG TIN - PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

BÀI TUYÊN TRUYỀN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NĂM 2026

Bài viết tuyên truyền

        Ngày 23/4/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, số 05/2026/QH16. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 và các luật có liên quan; Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Vì vậy, trong thời gian năm 2026, việc tuyên truyền nhằm giúp cán bộ và Nhân dân chủ động nắm bắt các quy định mới để thực hiện đúng từ thời điểm Luật có hiệu lực.

       Trợ giúp pháp lý là chính sách của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý và quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Theo Luật mới, phạm vi người được trợ giúp pháp lý được mở rộng, cơ chế phối hợp trong tố tụng được tăng cường, đồng thời hoạt động trợ giúp pháp lý được đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số.

I. NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TỪ NGÀY 01/01/2027

Theo Điều 7 của Luật Trợ giúp pháp lý được sửa đổi, bổ sung, người được trợ giúp pháp lý gồm 14 nhóm sau đây:

1. Người có công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ.

2. Người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo.

3. Người nhiễm chất độc da cam.

4. Người khuyết tật.

5. Trẻ em.

6. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người.

7. Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.

8. Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại.

9. Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này.

10. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.

11. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.

12. Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

13. Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.

14. Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, từ ngày 01/01/2027, diện người được trợ giúp pháp lý được mở rộng đáng kể. Người dân cần chủ động kiểm tra mình hoặc người thân có thuộc một trong các nhóm nêu trên hay không để được hướng dẫn, hỗ trợ khi có vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp.

II. TĂNG CƯỜNG CƠ CHẾ PHỐI HỢP VÀ TRỰC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG TỐ TỤNG

Luật quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp và tổ chức phối hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; tạo điều kiện để người được trợ giúp pháp lý hưởng quyền trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng theo quy định.

Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Tài chính phối hợp xây dựng cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh.

Các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng có trách nhiệm phối hợp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.

III. QUY ĐỊNH MỚI VỀ CHI NHÁNH CỦA TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC

Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có thể có Chi nhánh. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm và Trung tâm chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh.

Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh. Quy định này tạo điều kiện để việc bố trí mạng lưới trợ giúp pháp lý phù hợp hơn với đặc điểm địa bàn, nhất là những nơi rộng, xa trung tâm và đi lại khó khăn.

IV. HOÀN THIỆN TIÊU CHUẨN, BỔ NHIỆM VÀ MIỄN NHIỆM TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ

Luật quy định trợ giúp viên pháp lý phải là công dân Việt Nam, là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và đáp ứng các tiêu chuẩn: có phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý; có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý.

Luật đồng thời quy định rõ các trường hợp không được bổ nhiệm, các trường hợp bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ. Đáng chú ý, trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ nếu không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong 12 tháng liên tục, trừ trường hợp do nguyên nhân khách quan; hoặc thuộc các trường hợp khác theo Điều 22.

Trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm và thẻ đương nhiên không còn giá trị khi chuyển công tác khác, thôi việc, cho thôi việc hoặc nghỉ hưu.

V. MỞ RỘNG NGUỒN LỰC XÃ HỘI THAM GIA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Luật mở rộng đối tượng có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý, trong đó có người đã nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định, từng là trợ giúp viên pháp lý, Thẩm phán, Thẩm tra viên ngành Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát, Điều tra viên, Chấp hành viên, Thẩm tra viên thi hành án dân sự; người giữ hạng, ngạch chuyên viên chính và tương đương trở lên làm công tác pháp luật; một số người có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên; viên chức đáp ứng điều kiện theo luật định.

Việc mở rộng nguồn cộng tác viên nhằm huy động nguồn nhân lực có kinh nghiệm, đồng thời vẫn đặt ra các tiêu chuẩn, điều kiện và cơ chế quản lý để bảo đảm chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý.

VI. CẤP, THU HỒI VÀ QUẢN LÝ THẺ CỘNG TÁC VIÊN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cho người đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện và không thuộc các trường hợp bị loại trừ theo Luật.

Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với người được cấp thẻ cộng tác viên để thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng tại địa phương.

Cộng tác viên có thể bị thu hồi thẻ khi không còn đủ tiêu chuẩn, không thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý trong 02 năm liên tục, vi phạm quy định của Luật hoặc thuộc các trường hợp khác được quy định tại Điều 24.

VII. TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ

Một điểm mới trực tiếp liên quan đến cấp xã là Luật quy định Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong việc triển khai thực hiện công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn.

Đối với UBND xã Thanh An, việc triển khai cần tập trung vào tuyên truyền, phổ biến chính sách trợ giúp pháp lý; phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước khi tổ chức hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn; tạo điều kiện để người thuộc diện được trợ giúp pháp lý biết, tiếp cận và sử dụng dịch vụ theo quy định.

Trong quá trình giải quyết công việc liên quan đến công dân, nếu công dân thuộc diện người được trợ giúp pháp lý thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

VIII. TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC THÀNH VIÊN

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý và phối hợp với các cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan trong công tác trợ giúp pháp lý.

Đây là cơ chế quan trọng để chính sách trợ giúp pháp lý được thực hiện công khai, đúng đối tượng, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

IX. BỔ SUNG CƠ CHẾ CHUYỂN YÊU CẦU, VỤ VIỆC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Luật bổ sung cơ chế chuyển vụ việc trợ giúp pháp lý giữa các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Khi vụ việc đang được một Trung tâm giải quyết đã được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan tiến hành tố tụng tại địa phương khác giải quyết, Trung tâm đang giải quyết có thể chuyển vụ việc cho Trung tâm tại địa phương đó và phải thông báo cho người được trợ giúp pháp lý biết.

Quy định này góp phần giảm khó khăn về đi lại, nâng cao hiệu quả tham gia tố tụng và bảo đảm tính liên tục của việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý.

X. ĐƠN GIẢN HÓA, LÀM RÕ QUY ĐỊNH VỀ YÊU CẦU VÀ THỤ LÝ VỤ VIỆC

Luật quy định khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Yêu cầu chỉ được thụ lý khi có vụ việc cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và phù hợp với quy định của Luật.

Trong trường hợp người yêu cầu chưa thể cung cấp đầy đủ hồ sơ nhưng cần được trợ giúp ngay do vụ việc sắp hết thời hiệu khởi kiện, sắp đến ngày xét xử, do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan tiến hành tố tụng chuyển yêu cầu, hoặc để tránh gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý có thể thụ lý ngay và hướng dẫn bổ sung hồ sơ, tài liệu cần thiết.

XI. ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ VÀ KẾT NỐI DỮ LIỆU TRỢ GIÚP PHÁP LÝ

Luật giao Bộ Tư pháp ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số và triển khai chuyển đổi số trong hoạt động trợ giúp pháp lý; xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên nâng cấp hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý; thực hiện kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và các cơ quan có liên quan có trách nhiệm phối hợp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu theo quy định. Qua đó, người dân có thêm điều kiện tiếp cận thông tin và dịch vụ trợ giúp pháp lý thuận lợi, kịp thời.

XII. NHỮNG ĐIỀU NGƯỜI DÂN CẦN GHI NHỚ

Thứ nhất, trợ giúp pháp lý là dịch vụ pháp lý do Nhà nước bảo đảm cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, từ ngày 01/01/2027, Luật số 05/2026/QH16 mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý lên 14 nhóm theo Điều 7 được sửa đổi, bổ sung.

Thứ ba, khi có vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, người thuộc diện được trợ giúp pháp lý cần chủ động liên hệ Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước hoặc tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý để được hướng dẫn.

Thứ tư, UBND xã Thanh An có trách nhiệm phối hợp với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước trong triển khai công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn; người dân có thể liên hệ UBND xã để được hướng dẫn, giới thiệu đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định.

Thứ năm, người dân cần cung cấp thông tin, giấy tờ cần thiết để tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý xác định diện được trợ giúp và thụ lý vụ việc theo quy định.

LỜI KẾT

       Kính thưa toàn thể Nhân dân!

       Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 tiếp tục khẳng định chính sách của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, nhất là những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương.

      UBND xã Thanh An đề nghị cán bộ, công chức, các thôn, bản, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn thể Nhân dân quan tâm tìm hiểu, tuyên truyền và thực hiện đúng các quy định của Luật; chủ động hướng dẫn, giới thiệu người thuộc diện được trợ giúp pháp lý đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu.

Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm lắng nghe của toàn thể Nhân dân!